BÀI VIẾT PHÁP LÝ Trách Nhiệm Dân Sự Do Vi Phạm Nghĩa Vụ Theo BLDS 2015

16-08-2022


Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là một chế tài trong nghĩa vụ. Đối với các chủ thể tham gia một quan hệ nghĩa vụ, bên cạnh việc để cho các bên tự giác thực hiện, pháp luật còn đặt ra các biện pháp cưỡng chế nhằm tác động đến ý thức tự giác của các chủ thể, đồng thời để áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ.

Trách nhiệm dân sự là việc mà bên có nghĩa vụ phải chuyển giao tài sản, thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của bên có quyền. Khi nghĩa vụ không thực hiện thì bên vi phạm nghĩa vụ sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự.

Theo Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Trong đó, vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, không đầy đủ, không đúng nội dung nghĩa vụ.

* Các loại trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ:

1) Trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ:

Với trách nhiệm này, bên vi phạm nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền. Nếu bên có quyền đã yêu cầu mà bên có nghĩa vụ không thực hiện thì có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ.

- Có 4 loại trách nhiệm:

+ Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Điều 356 Bộ luật Dân sự 2015)

+ Trách nhiệm do châm thực hiện nghĩa vụ trả tiền (Điều 358 Bộ luật Dân sự 2015)

+ Trách nhiệm do không thực hiện hoặc không thực hiện một số công việc (Điều 359 Bộ luật Dân sự 2015)

+ Trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ (Điều 359 Bộ luật Dân sự 2015).

2) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra khi hành vi vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại. Mặt khác, một người chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi.

Theo Điều 360 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Ví dụ: Công ty A và công ty B ký hợp đồng mua bán trong đó công ty A là bên mua nguyên liệu phục vụ sản xuất và công ty B là công ty cung cấp. Trong hợp đồng giao kết, hai bên đã thỏa thuận 02 bên sẽ bàn giao hàng vào 15/07/2020 và bên A có nghĩa vụ thanh toán hết tiền hàng cho bên B hạn cuối vào 30/07/2020. Tuy nhiên, bên B không bàn giao hàng đúng thời hạn khiến bên A không thể sản xuất và có nhiều thiệt hại.

Bên B đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng khi không bàn giao hàng đúng hạn cho bên A.

Bên A là bên bị thiệt hại bởi sản xuất bị ngưng và bị hủy một số đơn hàng.

Trong trường hợp này, trách nhiệm dân sự thuộc về bên B, bên B có trách nhiệm hoàn thành các nghĩa vụ đã giao kết trong hợp đồng và bồi thường những thiệt hại của bên A do hành vi của bên B gây ra.

Như vậy, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng, hoặc thực hiện không đầy đủ những thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật thì đều bị coi là vi phạm và gánh chịu trách nhiệm dân sự. Theo đó, bên vi phạm có thể sẽ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoặc bồi thường thiệt hại, tùy vào từng trường hợp cụ thể và thỏa thuận của các bên.